Sứ thần Đại Việt thường được chọn trong số những người giỏi chữ nghĩa bậc nhất, vì những chuyến đi sứ phương Bắc là cuộc gặp giữa những người cùng dùng chữ Hán, nơi thơ văn, tài ứng đối và vốn hiểu biết thay cho gươm giáo. Nhiều sứ thần đã để lại tác phẩm, và có những cuộc xướng hoạ thơ với sứ thần các nước khác còn được ghi chép đến ngày nay.
Chào bạn, đây là Nhà Ngoại Giao. Hôm nay mình kể về những nhà ngoại giao của ông cha ta, những người lên đường với hành trang là bút nghiên.
Vì sao chọn người giỏi văn?
Trong thế giới chịu ảnh hưởng văn hoá chữ Hán, văn chương là thước đo của học vấn và tư cách. Một sứ thần làm thơ hay, đối đáp giỏi khiến triều đình bên kia phải nể trọng, và qua đó nể trọng cả nước đã cử người ấy đi.
Vì vậy, triều đình thường chọn những người đỗ đạt cao, có tiếng về văn học, hiểu biết kinh điển, và đủ sức khoẻ cho hành trình dài. Đi sứ vừa là vinh dự vừa là thử thách lớn trong đời một vị quan.
Một đoàn sứ bộ thường có chánh sứ, phó sứ cùng nhiều người tuỳ tùng, mang theo văn thư và lễ vật. Nhiệm vụ có thể là báo tin, xin phong, mừng lễ, hay giải quyết những việc giữa hai nước.
Ngoài nhiệm vụ chính, sứ thần còn quan sát, ghi chép về đất nước đi qua, mua sách, tìm hiểu kỹ thuật. Họ là những người mang tri thức từ bên ngoài về.
Hành trình đi sứ
Đường đi sứ phương Bắc thời xưa rất dài. Đoàn đi đường bộ từ kinh đô lên biên giới, rồi qua nhiều tỉnh để đến kinh đô phương Bắc. Một chuyến đi và về có thể mất hơn một năm.
Hành trình qua núi cao, sông lớn, khí hậu khắc nghiệt. Đã có những sứ thần lâm bệnh, thậm chí qua đời trên đường. Người ra đi chuẩn bị tinh thần xa gia đình rất lâu.
Dọc đường, sứ thần thường làm thơ ghi lại cảnh vật, tâm trạng, những di tích đi qua. Những tập thơ đi sứ trở thành một dòng văn học riêng trong văn học trung đại Việt Nam.
Đọc thơ đi sứ, ta thấy nỗi nhớ quê, niềm tự hào về đất nước, sự tò mò trước những điều mới lạ, và cả những suy tư về thân phận người làm quan nơi đất khách.
Những cuộc gặp gỡ bằng thơ
Kinh đô phương Bắc thời ấy là nơi sứ thần nhiều nước cùng có mặt. Đó là dịp các sứ thần Đại Việt gặp sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu và các nước khác, những người cũng dùng chữ Hán.
Một cuộc gặp nổi tiếng được ghi chép là của Phùng Khắc Khoan, đi sứ vào cuối thế kỷ mười sáu, với sứ thần Triều Tiên Lý Toái Quang. Hai người xướng hoạ thơ với nhau, và những bài thơ ấy còn được lưu lại ở cả hai nước.
Lê Quý Đôn, nhà bác học thế kỷ mười tám, khi đi sứ cũng có những cuộc trao đổi học thuật, thơ văn với sứ thần Triều Tiên và giới trí thức phương Bắc. Ông ghi chép nhiều điều trong các tác phẩm của mình.
Những cuộc gặp này là ngoại giao văn hoá theo đúng nghĩa: không có hiệp ước nào được ký, nhưng sự tôn trọng lẫn nhau giữa những người trí thức của các nước được xây dựng.
Tác phẩm còn lại
Nhiều sứ thần để lại tác phẩm có giá trị. Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, từng làm chánh sứ đi sứ phương Bắc và để lại tập thơ chữ Hán Bắc hành tạp lục, ghi lại những suy tư trên đường đi.
Lê Quý Đôn để lại những ghi chép về chuyến đi sứ trong các trước tác của ông. Phùng Khắc Khoan cũng có tập thơ đi sứ riêng.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã tập hợp và dịch nhiều tác phẩm thơ văn đi sứ của người Việt, giúp người đọc hiện đại tiếp cận được kho tư liệu quý này.
Những tác phẩm ấy không chỉ là văn chương, mà còn là tư liệu về địa lý, phong tục, giao thông, và cả về cách người xưa làm ngoại giao.
Sử liệu và giai thoại
Quanh các sứ thần còn có rất nhiều giai thoại dân gian về tài ứng đối, như những câu đối thông minh làm triều đình bên kia phải thán phục. Giai thoại về Mạc Đĩnh Chi là một ví dụ nổi tiếng.
Những câu chuyện này phản ánh niềm tự hào của người Việt về trí tuệ cha ông, nhưng nhiều chi tiết là truyền miệng, không có trong sử liệu chính thức. Khi kể, nên nói rõ đó là giai thoại.
Cũng có những chuyện được truyền tụng như việc sứ thần mang giống cây trồng mới về nước. Dân gian nhiều nơi tương truyền Phùng Khắc Khoan đem giống ngô về, nhưng đây là chuyện tương truyền mà các nhà sử học vẫn thận trọng.
Tách bạch sử liệu và giai thoại không làm câu chuyện kém đi. Ngược lại, nó giúp ta yêu quý cha ông một cách chính xác, và hiểu rằng ngoại giao của họ là thật, không cần phóng đại.
Câu hỏi thường gặp
Bắc hành tạp lục là gì?
Đó là tập thơ chữ Hán Nguyễn Du sáng tác trong chuyến đi sứ phương Bắc với tư cách chánh sứ. Tập thơ ghi lại cảnh vật, di tích và những suy tư sâu sắc về con người, lịch sử dọc đường đi.
Sứ thần Đại Việt có gặp sứ thần các nước khác không?
Có. Ở kinh đô phương Bắc, các sứ thần Đại Việt thường gặp sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu và nhiều nước khác, trao đổi thơ văn và học thuật bằng chữ Hán. Một số cuộc xướng hoạ còn được lưu lại.
Mạc Đĩnh Chi có thật là Lưỡng quốc Trạng nguyên không?
Mạc Đĩnh Chi là nhân vật lịch sử có thật, đỗ Trạng nguyên ở Đại Việt và từng đi sứ. Danh hiệu Lưỡng quốc Trạng nguyên cùng nhiều câu chuyện ứng đối đi kèm chủ yếu đến từ giai thoại dân gian.
Một chuyến đi sứ thời xưa mất bao lâu?
Thường hơn một năm cho cả chuyến đi và về, tuỳ thời kỳ, lộ trình và công việc ở kinh đô phương Bắc. Hành trình chủ yếu bằng đường bộ và đường sông, rất vất vả.
Có thể đọc thơ đi sứ ở đâu?
Nhiều tập thơ đi sứ đã được dịch và xuất bản, có trong các tuyển tập văn học trung đại Việt Nam và các công trình nghiên cứu Hán Nôm. Thư viện lớn và nhà sách chuyên về văn hoá là nơi nên tìm.