Một điều ước quốc tế thường đi qua các bước: đàm phán, thống nhất văn bản, ký, rồi phê chuẩn hoặc phê duyệt theo thủ tục của từng nước, và cuối cùng mới có hiệu lực theo đúng điều khoản các bên đã thoả thuận. Tấm ảnh hai vị lãnh đạo ký văn bản trên mặt báo thường chưa phải là điểm kết thúc; với nhiều điều ước, đó chỉ là điểm giữa.
Chào bạn, đây là Nhà Ngoại Giao. Hôm nay mình đi theo hành trình của một văn bản từ lúc còn là bản nháp trên bàn đàm phán cho tới khi trở thành luật giữa các quốc gia.
Điều ước quốc tế là gì?
Điều ước quốc tế là thoả thuận bằng văn bản giữa các quốc gia, hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế, được điều chỉnh bởi luật quốc tế. Tên gọi có thể là hiệp ước, hiệp định, công ước, nghị định thư, thoả thuận. Tên khác nhau nhưng bản chất đều là cam kết ràng buộc.
Điều ước song phương là giữa hai bên. Điều ước đa phương là giữa nhiều bên, có thể lên tới gần như toàn bộ các nước trên thế giới.
Quy tắc chung về cách ký kết, giải thích và chấm dứt điều ước được ghi lại trong Công ước Viên về luật điều ước quốc tế, ký năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín.
Ở nền của tất cả là một nguyên tắc rất cổ, thường được nhắc bằng tiếng La tinh: các thoả thuận phải được tôn trọng. Điều ước có hiệu lực thì các bên phải thực hiện một cách thiện chí.
Từ đàm phán đến ký tắt
Mọi điều ước bắt đầu từ đàm phán. Các đoàn trao đổi dự thảo, sửa từng điều, có khi từng chữ, qua nhiều vòng. Với điều ước đa phương lớn, quá trình này có thể kéo dài nhiều năm.
Người đại diện đàm phán và ký kết thường phải có giấy uỷ quyền đặc biệt từ nước mình, gọi là thư uỷ quyền hay giấy toàn quyền. Một số chức danh như nguyên thủ, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao được coi là có sẵn thẩm quyền này.
Khi văn bản đã được thống nhất, các bên có thể ký tắt, tức là các trưởng đoàn ghi tên tắt lên từng trang. Ký tắt xác nhận rằng đây là văn bản đã thống nhất, không ai được sửa thêm, nhưng chưa phải cam kết ràng buộc.
Văn bản thường được làm bằng nhiều ngôn ngữ, và điều ước sẽ ghi rõ các bản có giá trị như nhau hay bản ngôn ngữ nào được dùng khi có khác biệt trong cách hiểu.
Ký và phê chuẩn khác nhau ra sao?
Ký chính thức là bước các bên thể hiện ý định ràng buộc. Với một số điều ước, chữ ký là đủ để điều ước có hiệu lực. Với nhiều điều ước khác, chữ ký chỉ là bước đầu, sau đó mỗi nước phải phê chuẩn hoặc phê duyệt theo thủ tục trong nước.
Phê chuẩn là thủ tục mà cơ quan có thẩm quyền trong nước chấp nhận sự ràng buộc của điều ước. Mỗi nước có quy định riêng về loại điều ước nào cần cơ quan nào phê chuẩn.
Trong khoảng thời gian giữa ký và phê chuẩn, nước đã ký vẫn có nghĩa vụ không làm điều gì phá hỏng mục đích của điều ước, trừ khi đã tuyên bố rõ không muốn trở thành thành viên.
Đó là lý do có những điều ước ký từ lâu nhưng nhiều năm sau mới có hiệu lực, hoặc chưa bao giờ có hiệu lực, vì không đủ số nước phê chuẩn.
Có hiệu lực, bảo lưu và lưu chiểu
Thời điểm có hiệu lực được ghi trong chính điều ước. Với điều ước song phương, thường là khi hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn hoặc thông báo cho nhau đã hoàn tất thủ tục. Với điều ước đa phương, thường là sau khi đủ một số nước phê chuẩn nhất định.
Với điều ước đa phương, các văn kiện phê chuẩn được gửi tới một nơi lưu chiểu, có thể là chính phủ một nước hoặc một tổ chức quốc tế. Nơi lưu chiểu giữ bản gốc và thông báo cho các thành viên.
Khi tham gia điều ước đa phương, một nước có thể đưa ra bảo lưu, tức là tuyên bố không áp dụng hoặc áp dụng khác đi một số điều khoản, nếu điều ước không cấm bảo lưu. Bảo lưu giúp nhiều nước tham gia hơn, đổi lại sự thống nhất kém hơn.
Hiến chương Liên Hợp Quốc yêu cầu các điều ước của thành viên được đăng ký với Ban thư ký Liên Hợp Quốc. Đây là cách để chống lại những thoả thuận bí mật như thời trước.
Điều ước sống và chết thế nào?
Sau khi có hiệu lực, điều ước phải được thực hiện, nhiều khi đòi hỏi các nước sửa luật trong nước cho phù hợp. Đây là phần ít người để ý nhưng tốn nhiều công sức nhất.
Điều ước có thể được sửa đổi, bổ sung theo thủ tục ghi trong chính nó. Một nước cũng có thể rút khỏi điều ước theo điều khoản rút lui, thường phải thông báo trước một thời gian.
Có những điều ước tự hết hiệu lực khi hết thời hạn, hoặc khi mục đích đã hoàn thành. Có những điều ước tồn tại hàng trăm năm.
Lần tới đọc tin hai nước ký một hiệp định, bạn có thể hỏi thêm một câu: hiệp định này đã có hiệu lực chưa, hay mới bắt đầu hành trình?
Câu hỏi thường gặp
Hiệp định, hiệp ước, công ước khác nhau thế nào?
Về pháp lý, tên gọi không quyết định giá trị ràng buộc. Theo thông lệ, công ước thường dùng cho điều ước đa phương lớn, hiệp ước cho những thoả thuận quan trọng, hiệp định cho thoả thuận trong một lĩnh vực cụ thể. Nhưng không có quy tắc cứng.
Biên bản ghi nhớ có phải điều ước quốc tế không?
Không nhất thiết. Nhiều biên bản ghi nhớ chỉ thể hiện ý định hợp tác, không có tính ràng buộc pháp lý. Tính chất cụ thể phụ thuộc vào nội dung và ý định của các bên.
Ai có quyền ký điều ước thay mặt một nước?
Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao được coi là có thẩm quyền đương nhiên. Những người khác cần giấy uỷ quyền hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Một nước có thể rút khỏi điều ước không?
Có, nếu điều ước có điều khoản cho phép rút lui, hoặc theo quy tắc chung của luật điều ước. Thường phải thông báo trước một thời gian và việc rút lui không xoá bỏ nghĩa vụ đã phát sinh trước đó.
Điều ước quốc tế có cao hơn luật trong nước không?
Mỗi nước quy định mối quan hệ này trong hệ thống pháp luật của mình. Về luật quốc tế, một nước không thể viện dẫn luật trong nước để biện minh cho việc không thực hiện điều ước đã có hiệu lực.