Thư Amarna là hàng trăm tấm đất sét ghi thư từ qua lại giữa các pharaoh Ai Cập với vua chúa vùng Cận Đông vào thế kỷ mười bốn trước Công nguyên, còn hoà ước Kadesh giữa Ai Cập và vương quốc Hittite khoảng một thế kỷ sau là một trong những hoà ước thành văn sớm nhất mà con người còn giữ được. Đọc chúng, ta thấy ngoại giao đã có nghi thức, quà tặng, phàn nàn và điều khoản từ hơn ba nghìn năm trước.
Chào bạn, đây là Nhà Ngoại Giao. Hôm nay mình đi ngược thời gian rất xa, để thấy rằng những gì các nhà ngoại giao làm ngày nay có gốc rễ sâu hơn ta tưởng.
Kho thư trên đất sét
Cuối thế kỷ mười chín, ở một vùng đất Ai Cập ngày nay gọi là Amarna, người ta phát hiện một kho tấm đất sét khắc chữ. Nơi này từng là kinh đô do pharaoh Akhenaten xây dựng.
Các tấm đất sét là thư từ ngoại giao. Có thư giữa pharaoh với các vua lớn của Babylon, Assyria, Mitanni, Hittite; có thư từ các thành bang nhỏ hơn ở vùng Canaan, những nơi chịu ảnh hưởng của Ai Cập.
Điều thú vị là phần lớn thư không viết bằng tiếng Ai Cập, mà bằng tiếng Akkad, ghi bằng chữ hình nêm. Đó là ngôn ngữ ngoại giao chung của vùng Cận Đông thời bấy giờ, giống như vai trò của tiếng Pháp hay tiếng Anh sau này.
Nghĩa là ngay từ thời ấy, các triều đình đã cần những người thư lại biết ngôn ngữ chung, những người tiền thân của phiên dịch và thư ký ngoại giao.
Anh em, quà tặng và những lời phàn nàn
Các vua lớn gọi nhau là anh em, một cách thể hiện họ ngang hàng. Các vua nhỏ thì gọi pharaoh là chúa thượng, tự nhận mình là chư hầu trung thành. Hệ thống thứ bậc đã hiện rõ ngay trong cách xưng hô.
Thư thường mở đầu bằng lời chúc sức khoẻ cho nhà vua, cho vợ con, cho quan lại, ngựa xe và cả đất nước người nhận. Rồi mới vào việc.
Quà tặng là một phần quan trọng. Vua các nước gửi ngựa, xe, đá quý, và thường xin vàng từ Ai Cập. Có những lá thư phàn nàn quà nhận được quá ít, hoặc vàng gửi sang khi đem nung thì hao hụt, chứng tỏ không đủ chất lượng.
Cũng có thư than rằng sứ giả của mình bị giữ lại quá lâu ở triều đình bên kia. Nghe như chuyện của ngày nay: một đoàn công tác chờ mãi không được tiếp, và cả hai bên đều hiểu sự chậm trễ đó là một thông điệp.
Hoà ước Kadesh ra đời thế nào?
Vào thế kỷ mười ba trước Công nguyên, Ai Cập và vương quốc Hittite, nằm trên vùng đất nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, tranh giành ảnh hưởng ở vùng Syria. Hai bên đụng độ trong trận Kadesh, một trong những trận đánh lớn có ghi chép của thời cổ đại.
Kết quả trận đánh không phân thắng bại rõ ràng, dù cả hai bên đều có những ghi chép tôn vinh mình. Nhiều năm sau, pharaoh Ramesses Đệ Nhị và vua Hittite Hattusili Đệ Tam đi đến một hoà ước.
Hoà ước được ghi lại ở cả hai phía. Phía Ai Cập khắc bằng chữ tượng hình trên tường đền thờ. Phía Hittite giữ bản bằng tiếng Akkad trên tấm đất sét, được các nhà khảo cổ tìm thấy ở kinh đô cũ của họ.
So hai bản, người ta thấy nội dung về cơ bản giống nhau, nhưng mỗi bên đều trình bày theo cách để mình không có vẻ là người xin hoà trước. Thể diện đã là chuyện lớn từ ba nghìn năm trước.
Hoà ước nói gì?
Hai bên cam kết hoà bình và tình anh em vĩnh viễn, không xâm phạm lãnh thổ của nhau. Họ hứa giúp nhau khi bị kẻ thù bên ngoài tấn công hoặc khi có nổi loạn trong nước.
Một điều khoản rất đáng chú ý là việc trao trả người chạy trốn sang lãnh thổ bên kia, kèm cam kết không trừng phạt quá nặng những người bị trả về. Có thể coi đây là một dạng thoả thuận dẫn độ sớm.
Hoà ước được đặt dưới sự chứng giám của các vị thần hai bên, với lời nguyền dành cho ai vi phạm và lời chúc phúc cho ai giữ lời. Đó là cách bảo đảm thực hiện khi chưa có toà án quốc tế.
Ngày nay, một bản sao hoà ước được trưng bày tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York, như một lời nhắc rằng con người đã biết tìm hoà bình bằng chữ viết từ rất sớm.
Bài học từ ba nghìn năm trước
Đọc những văn bản cổ này, điều đầu tiên mình nhận ra là nhiều thứ cơ bản của ngoại giao không hề thay đổi. Cần một ngôn ngữ chung, cần nghi thức xưng hô, cần quà tặng, cần sứ giả được đối xử tử tế.
Điều thứ hai là thể diện. Cả hai bên đều muốn hoà, nhưng không bên nào muốn trông như kẻ yếu. Nghệ thuật soạn văn bản để mỗi bên đều có thể về kể với dân mình một câu chuyện hay đã có từ thời ấy.
Điều thứ ba là sự bền bỉ. Thư từ đi bằng xe ngựa, mỗi chuyến mất nhiều tháng. Một mối quan hệ được xây bằng hàng chục lá thư, qua nhiều đời vua.
Lần tới bạn đọc một bản tin về hai nước ký kết, hãy nhớ tới những tấm đất sét ở Amarna. Phương tiện đã khác, nhưng nhu cầu nói chuyện với nhau thay vì đánh nhau thì vẫn vậy.
Câu hỏi thường gặp
Thư Amarna hiện được lưu giữ ở đâu?
Các tấm thư Amarna hiện nằm rải rác ở nhiều bảo tàng lớn trên thế giới, trong đó có các bảo tàng ở Ai Cập, Anh và Đức, vì sau khi phát hiện chúng đã được phân tán qua nhiều con đường.
Hoà ước Kadesh có phải hoà ước đầu tiên trong lịch sử không?
Nó thường được nhắc là một trong những hoà ước thành văn sớm nhất còn được biết đến với nội dung khá đầy đủ từ cả hai phía. Có những thoả thuận cổ hơn ở vùng Lưỡng Hà, nên các nhà sử học thường dùng cách nói thận trọng là một trong những hoà ước sớm nhất.
Vì sao các vua cổ đại dùng tiếng Akkad để viết thư?
Tiếng Akkad và chữ hình nêm đã được dùng rộng rãi ở vùng Lưỡng Hà trong nhiều thế kỷ, nên trở thành phương tiện giao tiếp chung giữa các triều đình. Các triều đình đều có thư lại được đào tạo để đọc và viết thứ chữ này.
Chữ hình nêm là gì?
Đó là hệ chữ viết được tạo bằng cách ấn đầu cây bút sậy vào đất sét còn ướt, để lại những vết hình cái nêm. Chữ hình nêm được dùng cho nhiều ngôn ngữ khác nhau ở vùng Cận Đông cổ đại.
Người Hittite là ai?
Người Hittite xây dựng một vương quốc mạnh ở vùng Tiểu Á, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Kinh đô của họ là Hattusa, nơi các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều văn bản đất sét, trong đó có bản hoà ước với Ai Cập.